BẢN TIN HÔM NAY

Ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định lấy 21/4 hằng năm là ngày Sách Việt Nam. Sau đó, để đưa Văn hóa đọc được phổ biến rộng rãi hơn, ngày 4/11/2021, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổ chức Ngày Sách và Văn hóa Đọc Việt Nam, thay thế cho Ngày Sách Việt Nam trước đó. Sự kiện này vẫn được tổ chức vào ngày 21/4 hàng năm nhằm thúc đẩy và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam hướng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sách và văn hóa đọc. Sách là kho tàng tri thức vô tận, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Đọc sách giúp con người mở rộng tầm nhìn, bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tư duy, hoàn thiện nhân cách. Việc xây dựng văn hóa đọc là góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

TÀI NGUYÊN HỌC LIỆU SỐ THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT DIỄN CHÂU 2

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GỐC ĐỌC BÁO, TẠP CHÍ

LIÊN KẾT CỔNG THÔNG TIN - HỌC LIỆU SỐ

Các ý kiến mới nhất

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5354861029833_bfd622282be6cd42f7af69a4e4494ebf.jpg Z5354861041019_51f52de1887a8fb8614741020374afe1.jpg Z5354860007158_41f0d89fae4c7ca72eac94001d93fafb_1.jpg

    GỐC ĐỌC SÁCH PHÁP LUẬT

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SGV

    SÁCH ĐIỆN TỬ - STK

    KỸ NĂNG SỐNG THPT

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    Trường THPT Diễn Châu 2 - Nghệ An. tháng 3/2023

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT DIỄN CHÂU 2 !

    CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - NGUYỄN TUÂN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:46' 08-05-2024
    Dung lượng: 579.3 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN
    I. Giới thiệu chung:
    – Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, uyên bác. “Chữ người tử tù” in trong tập “Vang
    bóng một thời” (1938) là truyện ngắn tiêu biểu của ông trước Cách mạng tháng Tám.
    – Qua vẻ đẹp của Huấn Cao, tác giả đã ca ngợi những người tài hoa, có nhân cách
    và gởi gắm lòng yêu nước kín đáo, cảm động.
    II. Nội dung chính:
    1. Tình huống truyện độc đáo, thú vị:
    – Độc đáo:
    + Người chơi chữ đẹp: viên Quản ngục
    + Người viết chữ đẹp: kẻ tử tù
    – Thú vị:
    + Ngoài đời: hai người là kẻ thù
    + Tâm hồn: là hai người tri kỷ tri âm.
    2. Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao:
    a. Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa của một thời đã qua: “Tài viết chữ rất nhanh và
    rất đẹp”, được mọi người thán phục và là niềm mơ ước, khát khao của viên Quản
    ngục.
    – Chữ của Huấn Cao còn là báu vật hiếm có trên đời
    b. HC là người có khí phách hiên ngang: Ông coi thường bạo lực, dám chống lại
    triều đình, khinh khi Quản ngục, “đến cảnh chết chém còn chẳng sợ” và bình tĩnh
    chờ ngày thụ án - Bị tù về thể xác nhưng tự do trong tâm hồn.

    Trang 1

    c. Huấn Cao là người có nhân cách cao thượng, có thiên lương trong sáng:
    – Vàng bạc và quyền thế không thể ép ông cho chữ.
    – Rất trân trọng “thiên lương”.
    – Nhân cách cao đẹp của ông thể hiện qua cảnh cho chữ trong tù –một việc làm “xưa
    nay chưa từng có” - khẳng định cái đẹp, cái tài hoa đã chiến thắng cái xấu xa thấp
    hèn.
    – Lời khuyên của ông với Quản ngục thật chân thành cũng chứng minh nhân phẩm
    và thiên lương tỏa sáng nơi bất lương ngự trị – Huấn Cao là hiện thân của phẩm chất
    cao đẹp và cái tâm của người nghệ sĩ.
    => Tác giả đã dựa vào nguyên mẫu Cao Bá Quát - một nhà thơ có bản lĩnh thế kỷ
    XIX để xây dựng hình tượng Huấn Cao với vẻ đẹp nhân cách đáng trân trọng.
    3. Viên Quản ngục:
    – Là người biết trân trọng cái tài, cái thiên lương, cái đẹp, chữ đẹp.
    – Những suy nghĩ và hành động của ông với Huấn Cao đều thể hiện tấm lòng “biệt
    nhỡn liên tài” và một khao khát đáng trân trọng: có chữ của ông Huấn Cao treo trong
    nhà.
    – Cái vái lạy của ông với Huấn Cao ở đoạn cuối là một lời thề thiêng liêng- khẳng
    định cái đẹp và tài hoa đã cảm hóa nhân cách con người.
    III. Kết luận:
    – Bút pháp điêu luyện sắc sảo, ngôn ngữ cổ phong phú góp phần tạo nên thành công
    của truyện.
    – Truyện thể hiện tài năng và nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn
    Tuân trước Cách mạng: Khai thác sự vật và con gnười dưới góc đột thẩm mĩ, tài hoa.

    Trang 2

    NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
    1. Giá trị nghệ thuật:
    a. Nguyễn Tuân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ éo
    le, kì lạ giữa hai nhân vật Huấn Cao với viên Quản ngục:
    – Về không gian: chốn ngục thất mà Huấn Cao là tử tù còn viên Quản ngục là người
    có uy quyền trông coi ngục thất.
    –Về thời gian: đêm cuối cùng trước khí Huấn Cao bị chịu án chém.
    – Đó là một cuộc gặp gỡ éo le giữa một tử tù ngang tang, khí phách và có nhân cách
    cao đẹp lại viết chữ nho rất đẹp với một người coi tù thích chữ đẹp, đặc biệt là chữ
    của tử tù Huấn Cao.
    – Trên bình diện xã hội họ gặp nhau trong cảnh ngộ và vị thế đối kháng: Huấn Cao
    cầm đầu khởi nghĩa chống lại triều đình, bị coi là giặc, bị khép tội đại nghịch và chờ
    án chém; còn viên quản ngục đang phụng mệnh triều đình, là kẻ đại diện cho bộ máy
    cai trị của chế độ đó. Nhưng điều kì diệu là 2 kẻ tưởng đối nghịch ấy đã trở thành tri
    âm, tri kỉ.
    – Nhưng ở một chiều sâu khác, đây là một cuộc gặp gỡ tất yếu:
    + Ở phương diện nghệ thuật, Huấn Cao là một tài năng hiếm thấy, “một ngôi sao
    hôm nhấp nháy, một ngôi sao chính vị” mà tài viết chữ nho có một không hai trên
    đời “cả vùng tỉnh Sơn ta đều khen”. Viên Quản ngục tuy là người không có tài nhưng
    lại là người biết quý trọng cái tài, ông coi chữ của Huấn Cao là báu vật mà cả đời
    khao khát.
    + Ở phương diện cá nhân con người: Huấn Cao sắp chết chém mà vẫn hiên ngang,
    cao cả, bất chấp ngục tù và cái chết; còn ngục quan đang phụng mệnh triều đình lại
    giám biệt đãi tử tù trong nhà ngục.
    Huấn Cao là một người trọng nghĩa, khinh thường danh lợi, tấm lòng biết gạn đục,
    khơi trong, đem cái tâm để đãi người biết quý trọng cái đẹp, trọng cái tâm và cái tài;
    còn viên Quản ngục là một tấm lòng trong thiên hạ “một thanh âm trong trẻo giữa
    một bản đàn mà nhạc luật hỗn loạn, xô bồ”.
    Trang 3

    Như vậy họ đã gặp nhau ở cả nhân cách và khí phách. Nhưng điều quan trọng chính
    là cái chữ của người tử tù như chất keo kết dính những thứ đó lại với nhau. Chơi chữ
    hay thư pháp là một nghệ thuật lâu đời. Trong đó vẻ đẹp của họa kết hợp với cái tinh
    túy của văn tạo nên những bức câu đối, hoành phi, tứ bình vô giá. Người viết chữ và
    người biết thưởng thức chữ đều là người có tâm hồn thanh cao mới có thể gặp nhau,
    mới có thể trở thành tri âm, tri kỉ. Nhưng ông trời nhiều lúc chơi ác đem đầy ải những
    cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã và những con người có tâm tính tốt ngay
    thẳng lại phải ăn đời, ở kiếp với một lũ quay quắt. Đúng là một tình huống éo le
    nhưng tất yếu giữa những người thực chất là tri âm, tri kĩ. Cuộc gặp gỡ này là thử
    thách, làm nổi bật vẻ đẹp các nhân vật, làm cho truyện giàu kịch tính.
    b. Nghệ thuật tạo không khí cổ xưa cho tác phẩm: Những chi tiết về cảnh, người của
    một thời vang bóng. Sử dụng một loạt từ ngữ Hán - Việt rất đắt như: phiến chat, thầy
    bát, thầy thơ lại, viên Quản ngục, thiên lương, án thư, pháp trường, bộ tứ bình, bức
    trung đường, bái lĩnh… tạo nên mầu sắc lịch sử, cổ kính, bi tráng.
    d. Sử dụng triệt để thủ pháp tương phản đối lập, cách khắc họa nhân vật theo bút
    pháp lãng mạn, làm nổi bật gay gắt giữa cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, lí
    tưởng và hiện thực. Cảnh cho chữ là cảnh chói sáng nhất trong tác phẩm. Nó vừa
    thiêng liêng vừa tràn ngập ánh hào quang của cái đẹp. Cái đẹp tỏa ra từ phẩm chất,
    khí phách, nhân cách của các nhân vật đặc biệt toát ra từ vẻ đẹp, cái hay của chữ
    người tử tù HC đã tạo thành chất thơ huyền diệu của tác phẩm.
    2. Về nội dung tư tưởng:
    – Tác phẩm trở thành bài ca về cái đẹp, về những con người tài hoa sống đẹp, và
    sáng tạo ra cái đẹp; là bài ca về lòng quý trọng cái đẹp cái tài; bài ca về sự gặp gỡ
    giữa những tấm lòng đối với cái đẹp với nhân cách đẹp và những tấm lòng thiên
    lương với nhau. Qua đó tác phẩm đã thể hiện được quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn
    Tuân. Nhà văn khẳng định cái đẹp phải gắn với cái thiện (Lời khuyên của Huấn Cao
    với viên quản ngục ở cuối truyện mang hàm ý: cái đẹp có thể nảy sinh từ mảnh đất
    chết nhưng không thể sống chung với tội ác, con người chỉ xứng đáng được thưởng
    thức cái đẹp khi giữ được thiên lương), cái đẹp phải có sức mạnh cảm hóa cái xấu,
    cái ác; cái đẹp luôn chiến thắng và trở thành bất tử.

    Trang 4

    – Ca ngợi chữ người tử tù, ca ngợi và luyến tiếc một nhã thú văn hóa cổ truyền của
    dân tộc đang lụi tàn dần trong xã hội thực dân, truyện Chữ Người Tử Tù là một áng
    văn yêu nước, mang tinh thần dân tộc đậm đà. Lòng yêu nước thầm kín nhưng thiết
    tha còn được thể hiện trong hình tượng nhân vật Huấn Cao. Nhân vật này được xây
    dựng một phần bởi nguyên mẫu ngoài đời là Huấn đạo Cao Bá Quát (Nhà nho văn
    võ song toàn mà tài văn đã được người đời ca ngời Siêu thần thánh Quát hoặc Văn
    như Siêu Quát vô tiền Hán; Không chỉ có tài năng mà còn có nhân cách đẹp đã gửi
    lại qua một câu nói nổi tiếng: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa). Với hình tượng Huấn
    Cao, nhà văn đã kín đáo thể hiện niềm ngưỡng mộ, sự ca ngợi những người anh hùng
    đã hi sinh vì nước, vì dân, mà hoàn cảnh lúc đó chưa cho phép tác giả được công
    khai ca ngợi.

    TÌNH HUỐNG TRUYỆN ĐỘC ĐÁO TRONG TRUYỆN NGẮN “CHỮ
    NGƯỜI TỬ TÙ”
    1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề
    – Nguyễn Tuân (1910-1987) là "người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp" và cũng là
    cây bút rất mực tài hoa, uyên bác. Nhà văn thường quan sát, miêu tả thế giới ở
    phương diện thẩm mĩ và đánh giá con người dưới góc độ tài hoa, nghệ sĩ.
    – Chữ người tử tù là truyện ngắn trích trong tập Vang bóng một thời (1940) là tác
    phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước Cách mạng, tác phẩm
    được đánh giá là "gần đạt đến sự hoàn mĩ". Góp phần vào thành công nghệ thuật của
    tác phẩm, không thể không nói đến nghệ thuật tạo tình huống độc đáo.
    2. Phân tích
    * Khái niệm tình huống truyện:
    + Tình huống truyện là "cái tình thế của câu chuyện", là cảnh huống chứa đựng trong
    nó những mâu thuẫn, xung đột hoặc những khả năng tiềm tàng để cốt truyện diễn
    tiến, phát triển, nhân vật bộc lộ tính cách.
    + Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm. Tình huống truyện có vai trò hết sức
    quan trọng, được ví như "cái chìa khóa vận hành cốt truyện". Từ tình huống truyện,
    Trang 5

    các sự kiện, biến cố của cốt truyện được phát triển, tính cách nhân vật được bộc lộ.
    Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột trong tình huống truyện sẽ bộc lộ rõ tư
    tưởng chủ đề của tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác giả. Việc sáng tạo nên các
    tình huống độc đáo biểu hiện khả năng quan sát, khám phá bản chất cuộc sống, bản
    chất con người của nhà văn.
    * Tình huống độc đáo của truyện ngắn Chữ người tử tù
    + Đó là cuộc gặp gỡ kì lạ đầy éo le, trớ trêu giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Nói
    là cuộc gặp gỡ éo le và trớ trêu là bởi xét trên bình diện xã hội, Huấn Cao và quản
    ngục là những kẻ đối địch nhau, là kẻ thù của nhau. Một người đấu tranh để lật đổ
    cái trật tự xã hội hiện hành, một kẻ là đại diện cho cái trật tự mà người kia đang
    muốn đánh đổ. Nhưng trên phương diện tài hoa, nhân cách, họ lại là những người
    bạn tri âm, tri kỉ. Một người là nghệ sĩ, sáng tạo cái đẹp, một người biết thưởng thức
    và trân trọng cái đẹp. Một người khí phách hiên ngang, cứng cỏi, một người ngưỡng
    mộ khí phách.
    + Đó là một cuộc gặp gỡ kì lạ: không gian diễn ra cuộc gặp gỡ là nhà ngục, là phòng
    giam ẩm thấp bẩn thỉu nơi vốn chỉ gợi nhắc đến sự tăm tối, bạo hành và tội ác. Thời
    gian diễn ra cuộc gặp gỡ cũng rất ấn tượng: đó là những ngày cuối cùng của người
    tử tù trước khi bị giải về kinh chịu án chém.
    * Vai trò của tình huống truyện:
    + Thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm: khẳng định sự bất tử của cái đẹp, sự tất thắng
    của cái chân, cái thiện, cái mĩ trong cuộc đối đầu với những gì xấu xa, tăm tối, độc
    ác. Thông điệp nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua tình huống truyện là thông điệp
    về sức mạnh cảm hóa kì diệu của nghệ thuật, của cái đẹp "Cái đẹp cứu rỗi nhân loại"
    + Bộc lộ tính cách nhân vật: Thông qua tình huống truyện, nhân vật Huấn Cao có cơ
    hội bộc lộ rõ những phẩm chất cao đẹp: vừa hiên ngang, dũng liệt vừa tài hoa nghệ
    sĩ lại giữ được cái tâm trong sáng. Còn quản ngục, qua tình huống éo le ấy, cũng thể
    hiện mình là một người có khí phách, biết "biệt nhỡn liên tài", trân trọng tài năng và
    khí phách của người anh hùng đồng thời là người vẫn giữ được thiên lương trong
    sáng.

    Trang 6

    + Thúc đẩy cốt truyện phát triển (tạo không khí căng thẳng, lôi cuốn): Từ tình huống
    truyện, cốt truyện được triển khai, phát triển và lên đến cao trào trong cảnh cho chữ
    cuối tác phẩm. Chính tình huống độc đáo đã tạo cho câu chuyện sự lôi cuốn, hấp dẫn
    người đọc ngay từ đầu tác phẩm.
    + Thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: một người nghệ sĩ tài hoa,
    đầy cá tính, luôn tìm tòi, khám phá cái đẹp, cái đẹp độc đáo, phi thường nhưng vẫn
    mang giá trị nhân văn sâu sắc.
    – Đánh giá chung: Tình huống truyện là một thành công nghệ thuật đặc sắc của tác
    phẩm, góp phần tạo nên giá trị, sức hấp dẫn của tác phẩm đồng thời thể hiện rõ phong
    cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Nguyễn Tuân.

    PHÂN TÍCH NHÂN VẬT HUẤN CAO TRONG 'CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ'
    Nguyễn Tuân, một nhà văn nổi tiếng của làng văn học Việt Nam; có những sáng tác
    xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng, về cái đẹp tinh thần như
    “chiếc ấm đất”, “chén trà sương”… và một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp chân dung
    tài hoa trong thiên hạ, đó là Huấn Cao trong tác phầm Chữ người tử tù".
    Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát với văn
    chương “vô tiền Hán”, còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm
    nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống
    triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân
    cách sang ngời và rất đỗi tài hoa.
    Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ
    đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong
    sang của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp.
    Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ. Chữ
    viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ
    của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang, tung hoành bốn
    bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục
    và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời.
    Trang 7

    Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được
    chữ của Huấn Cao, “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là
    chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết tinh
    mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp
    đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài
    tâm vẹn toàn.
    Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Ông theo
    học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng. Nhưng
    ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại
    nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương
    cho nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn
    bạo thối nát. Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của
    người dân “thấp cổ bé họng”.
    Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh
    hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu
    tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông
    bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước
    khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có
    tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là
    một con người hiếm có trên đời.
    Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi
    hành án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao
    vẫn giữ được khí phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng
    ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền
    đá tảng đánh thuỵch một cái” và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính
    áp giải.
    Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự
    giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu goong, ông
    vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dùng
    cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục!

    Trang 8

    Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm
    trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi
    Huấn Cao cần gì thì ông trả lời: “Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là
    ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi”.
    Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn
    hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là…” Ông không
    thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức
    được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ
    bẩn “cặn bã” của xã hội.
    “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong
    sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương”,
    bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý.
    Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Huấn Cao không nhữg vui vẻ
    nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng: “Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các
    ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như
    vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”.
    Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh. Ta không vì
    vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ”. Hành động cho chữ viên quản ngụ
    chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng niu
    những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình.
    Quang cảnh “cho chữ” diễn ra thật lạ, quả là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Kẻ
    tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa
    bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại, Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng
    nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ
    chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người
    đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi,
    để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp
    lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người.
    Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm
    giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo
    con: “Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở
    Trang 9

    đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái
    đời lương thiện”. Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được.
    Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng
    mà thôi.
    Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi. Huấn Cao,
    người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho
    những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi
    đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của
    cuộc đời này. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ
    không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh
    phúc cho mọi người ở mọi nơi.
    Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm”
    và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài
    hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa
    thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành
    công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học
    thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong
    lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.

    BÚT PHÁP LÃNG MẠN TRONG CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
    Trong trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, Nguyễn Tuân nổi lên như
    một gương mặt tiêu biểu của mảng sáng tác văn xuôi với những tác phẩm mang một
    phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn. Sáng tác của Nguyễn Tuân dù là truyện ngắn,
    tiểu thuyết hay tuỳ bút, trước 1945, đều là tiếng nói của một tâm hồn lãng mạn, một
    tài năng mẫu mực của nghệ thuật ngôn từ.
    Trong sự nghiệp Nguyễn Tuân, tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” là một mốc
    son đậm nét giúp người đọc hiểu và gần Nguyễn Tuân hơn, một Nguyễn Tuân tài
    ba, uyên bác và làm chủ gần như tuyệt đối vốn tiếng Việt phong phú, dồi dào và đầy
    sáng tạo. Tập truyện ngắn này của Nguyễn Tuân cũng là một thành tựu rực rỡ của
    văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, hội tụ trong đó những yếu tố thẩm mỹ và
    Trang 10

    nguyên tắc sáng tác của phương pháp sáng tác này. Truyện ngắn “Chữ người tử tù”
    là một trong số đó.
    Trong “Chữ người tử tù” nói riêng và tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” nói
    chung, Nguyễn Tuân đã dựng lại những mảnh của cuộc sống một thời đã qua, một
    thời vang bóng. Cả một dấu xưa vàng son, quá vãng nay trở về sáng lại trên mỗi
    trang văn với vẻ đẹp mê hồn, có khi rùng rợn mang đầy nuối tiếc, bâng khuâng.
    Truyện tuy ngắn nhưng cũng đủ để nhà văn vẽ ra một sự tương phản giữa cái lý
    tưởng và hoàn cảnh thực tại, giữa cái Thiện và cái Ác, giữa ánh sáng và bóng tối.
    Nhân vật Huấn Cao, quản ngục, thầy thư lại là một bộ ba nhân vật mà trong đó chỉ
    Huấn Cao là có tên (một cái tên cũng khá mơ hồ gồm tên gọi tắt của chức vụ (Huấn)
    đi kèm với họ (Cao) nhưng vẫn sáng lên như những nốt nhấn giữa một mặt bằng tăm
    tối. Có thể nói hoàn cảnh nhà lao nói riêng và hoàn cảnh xã hội nói chung đã giam
    hãm những con người trong sạch đó vào cái lồng thiên địa chật hẹp và bó buộc, là
    một không gian thù địch và luôn ẩn chứa sức phá hoại đối với cái Tài, cái Đẹp, cái
    Thiên lương. Nhân vật quản ngục và thư lại là những con người trung gian mà Huấn
    Cao là nhân vật lý tưởng, mẫu hình lý tưởng đối lập với cuộc sống đang níu giữ, kéo
    ghì quản ngục và thư lại xuống. Quản ngục và thư lại sống lẫn trong cuộc sống đó,
    Huấn Cao vượt lên khỏi cuộc sống đó nhưng xét đến cùng họ đều là nhân vật của
    văn học lãng mạn. Huấn Cao sống một cuộc sống mà bình sinh chọc trời khuấy nước
    mặc dầu với những hình tích và hành trạng bí ẩn đầy màu sắc truyền thuyết. Con
    người ấy đối lập mình với thế giới, với chế độ mà mình đang sống bởi tự ý thức được
    mình, ý thức được phẩm giá của mình, kiêu hãnh đứng riêng ra và cao hơn với xung
    quanh và cảm thấy cô độc trong niềm kiêu hãnh đó. Tuy quản ngục và thầy thư lại
    không được như Huấn Cao nhưng họ vẫn là những người xa lạ với hoàn cảnh của
    mình đang sống. “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa
    lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người (…) của viên quan coi ngục này là một
    thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”.
    Họ sống lạc lõng với xung quanh, là những người chọn nhầm nghề bởi nơi họ sống
    là một nơi “lẫn lộn (…) khó giữ thiên lương”, là nơi mà những cái thuần khiết bị đày
    ải giữa một đống cặn bã. Giữa cảnh sống đó, nhân cách và tài năng của Huấn Cao
    càng rực sáng hơn, Huấn Cao đã vượt lên khỏi những ràng buộc của hoàn cảnh để
    sống với chính bản thân mình dù rằng ông đang ở trong cảnh tù đày, cá nằm trên
    thớt. Nguyễn Tuân đã dùng những lời thật đẹp để tả lại khung cảnh “một ngôi sao
    Trang 11

    Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân trời không định (…); bấy nhiêu âm
    thanh phức tạp bay cao dần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị
    muốn từ biệt vũ trụ…”. Những câu văn bay bổng, tài hoa đó đã nói lên phần nào
    lòng yêu mến của nhà văn với các nhân vật lý tưởng của mình.
    Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một bức tranh gồm nhiều mảng màu khác nhau,
    phân rõ tối sáng, đậm nhạt mà trong đó cái Thiện và cái Ác, ánh sáng và bóng tối
    luôn tương phản với nhau. Có thể nói, ngay ước muốn xin chữ Huấn Cao của viên
    quản ngục đã là một ý định đầy chất lãng mạn. Ước mơ đó đã là cái nền nâng đỡ cho
    hàng loạt chi tiết sau này để những mảng màu tương phản được bày ra. Cảnh tượng
    Huấn Cao cho chữ là tột đỉnh của quan điểm lãng mạn mà tại điểm hội tụ đó cái
    Thiện chiến thắng cái Ác, ánh sáng đã lấn át bóng tối và quan trọng hơn là sự phát
    triển của tính cách nhân vật không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Tính cách, cảm
    xúc của nhân vật đã vượt lên trên hoàn cảnh. Nguyễn Tuân đã nói đó là “một cảnh
    tượng xưa nay chưa từng có” và chúng ta có thể nói nếu theo logic thông thường của
    cuộc sống thì đó là một cảnh tượng “không thể có”. Ở đây các nhân vật đã quên đi
    tất cả, quên đi địa vị, danh phận, địa điểm mình đang đứng mà chỉ sống với cái đẹp,
    hướng tới ánh sáng, thưởng thức chung một nét chữ, cảm nhận cùng một mùi thơm
    của mực. Trong bức tranh sơn dầu đó, Huấn Cao có cái đẹp lan toả của một người
    nghệ sĩ còn viên quản ngục và thầy thư lại có cái đẹp của lòng biệt nhỡn liên tài, vẻ
    đẹp của thiên lương còn giữ được giữa bao quay cuồng đen trắng. Từ hành động rỗ
    gông của Huấn Cao ở đầu truyện tới việc Huấn Cao viết chữ ở cuối truyện là sự
    thống nhất nhân cách của một nhân vật lãng mạn. Quản ngục, thư lại là hai nhân vật
    nâng đỡ nhưng cũng đẹp và đầy chất thơ – chất thơ của cái đẹp, của tài hoa đối lập
    và vượt lên khỏi thực tại tầm thường, tăm tối. Câu nói “Xin lĩnh ý” của viên quản
    ngục khi bị Huấn Cao quát đuổi ra ngoài chỉ đơn thuần là một sự nhũn nhặn nhưng
    câu nói “Xin bái lĩnh” của chính nhân vật này ở cuối truyện, nói sau khi được Huấn
    Cao cho chữ và khuyên bảo lại là một nét đẹp của một tâm hồn hướng thiện, yêu
    mến tài hoa.
    Trong sáng tác của các nhà văn lãng mạn, người ta có thể nhận ra được hình bóng
    nhà văn trong nhân vật lý tưởng của mình. Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” là một
    nhân vật như thế. Hành trạng một đời tung hoành không biết trên đầu có ai cùng sự
    tài hoa, ngông nghênh của ông Huấn cũng là một phần tâm hồn Nguyễn Tuân gửi
    vào trong đó. Con người Nguyễn Tuân ở ngoài đời cũng như con người ông trong
    Trang 12

    văn chương và các nhân vật của ông có những nét chồng khít đến kỳ lạ mà trong đó
    sự tài hoa, ngang tàng, phóng túng là mẫu số chung của những phân số đó. Con
    người nghệ sĩ ấy không chấp nhận cái tầm thường xung quanh, muốn nổi loạn với
    tất cả mà ở đây hình mẫu lịch sử của nhân vật Huấn Cao (một số nhà nghiên cứu nói
    là Cao Bá Quát) chỉ còn tiếng vọng. Cũng chính con người nghệ sĩ trong Nguyễn
    Tuân đã giúp ông bỏ đi phần kết của truyện này khi in trên báo, không đưa vào trong
    tập sách “Vang bóng một thời”. Khi truyện ngắn “Vang bóng một thời” in lần đầu
    trên báo, sau khi nói “Xin bái lĩnh”, viên quản ngục đã nghĩ rằng mình đã có “lời”,
    có “lãi” khi biệt đãi Huấn Cao và nhận được bức châm do chính tay Huấn Cao viết.
    Cái kết này đã bị lược bỏ khi truyện được in thành sách và chính sự lược bỏ đó đã
    làm cho truyện thành công hơn, cuốn hút hơn. Truyện cuốn hút vì nó là một khối
    lãng mạn thực sự mà không bị những ý nghĩ vụ lợi xen vào dù chỉ trong từng chi tiết
    nhỏ. Đó chính là quan niệm cái Đẹp không gắn liền với cái hữu ích, cái Đẹp đối lập
    với cái vụ lợi, như Nguyễn Tuân từng nói: “Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn coi
    là vô giá trị…”.
    “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng
    mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành
    công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng
    tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực
    sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn
    cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái
    Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.

    SO SÁNH HAI HÌNH TƯỢNG HUẤN CAO VÀ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
    Đề thi: So sánh hai nhân vật Huấn Cao (truyện ngắn “Chữ người tử tù”) và ông
    lái đò (tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”) để làm nổi bật cách xây dựng nhân vật
    của nhà văn Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng.
    GỢI Ý
    1. Hoàn cảnh

    Trang 13

    * Điểm chung
    – Phải đối mặt với một môi trường sống chứa đựng nhiều nguy hiểm, đầy thử thách.
    – Môi trường ấy đồng thời cũng là cơ hội để họ bộc lộ trọn vẹn những vẻ đẹp độc
    đáo trong tâm hồn, tính cách, khả năng của họ.
    * Điểm riêng
    – Huấn Cao
    + Chế độ phong kiến suy tàn, bắt đầu bộc lộ tính chất xấu xa, đen tối.
    + Vì chống lại triều đình phong kiến mà Huấn Cao đã bị bắt, bị xử án tử hình, bị
    giam cầm để chờ ngày ra pháp trường chịu án chém. Những ngày cuối cùng của cuộc
    đời ông phải sống trong buồng giam tử tù, nơi không có chỗ cho sự tồn tại của thiên
    lương hay cái đẹp. Do đó, Huấn Cao luôn phải chuẩn bị tâm thế cho những trò đốn
    mạt, cạm bẫy xấu xa của kẻ tiểu nhân.
    – Ông lái đò
    + Môi trường lao động đầy nguy hiểm: Con sông Đà hung bạo, độc dữ như kẻ thù
    số một.
    + Công việc lái đò lại là công việc dễ tổn thọ bởi nó đầy những hiểm nguy, buộc
    người lái đò phải luôn tay, luôn mắt, luôn gân, luôn tim. Nguy hiểm nhất là những
    lần vượt thác – nơi dòng sông thể hiện đầy đủ nhất cái uy lực khủng khiếp của nó.
    2. Đặc điểm:
    Tài năng phi phàm, xuất chúng:
    – Huấn Cao:
    + Tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật – đòi hỏi sự uyên bác và một tâm hồn phóng
    khoáng.
    + Tài viết chữ: Nét chữ vuông vắn, tươi tắn, viết nhanh và đẹp. Hồn chữ – điều được
    kí thác trong từng nét chữ là hoài bão tung hoành của một đời người. Danh tiếng:
    chữ Huấn Cao nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn đến kẻ vô danh tiểu tốt cũng biết đến
    Trang 14

    mà ngưỡng mộ. Chữ Huấn Cao là một vật báu ở đời, là niềm ao ước của những ai
    có sự am hiểu về chữ thánh hiền và cảm nhận được giá trị của cái đẹp. Chữ Huấn
    Cao có khả năng lay động, chinh phục lòng người.
    – Ông lái đò
    Tài năng bộc lộ trong lao động với một công việc rất bình thường: lái đò
    + Tay lái ra hoa: Những động tác chèo lái chứa đựng vẻ đẹp. Cái đẹp đời thường,
    giản dị mà cũng vô cùng độc đáo.
    + Linh hoạt trong từng động tác để ứng phó, hoá giải những đòn đánh, thế tấn công
    của con sông không chỉ độc dữ mà còn có khả năng quân sự tuyệt vời.
    Sông Đà đã phối hợp được sức mạnh của cả đá và nước. Ông lái đò chỉ đứng trên
    một con thuyền với một mái chèo, một mình đơn độc giữ bao la sóng thác. Đá sông
    Đà dàn thạch trận với những cửa sinh, của tử biến ảo không lường. Nước sông Đà
    có những thế võ và sức mạnh đủ để quật ngã những tay lái non gan và ít kinh nghiệm.
    mái chèo chỉ là một công cụ bình thường nhưng khi ở trong tay ông lái đò lại như
    một cây đũa thần, giúp ông ổn định thế trận, hoá giải sức mạnh của mọi đòn tấn
    công.
    Với sự linh hoạt của động tác, ông lái đò đã đưa chiếc thuyền vượt qua thạch trận.
    Lúc thì đè sấn lên sóng thác mà đi, chặt đôi sóng mà tiến,… Con thuyền dưới sự điều
    khiển của ông lái đò khi tiến khi thoái, khi công khi thủ. Có lúc nó lao vút như một
    mũi tên tre, xuyên nhanh qua nước, vừa bơi, vừa tự dộng lái được, lượn được.
    Qua mỗi trùng vi thạch trận, ông lái đò lại đổi tay lái và đổi luôn chiến thuật. Trong
    trận chiến trên sông, không phải không có lúc người lái đò méo bệch mặt đi vì những
    vết thương bởi sóng đánh đòn âm, đòn tỉa vào chỗ hiểm. Nhưng chính nhờ xự linh
    hoạt của động tác, sự biến hoá của chiến thuật đã khiến cho lũ đá nơi ải nước phải
    tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng. Con thuyền của ông lái đò đã bỏ lại phía sau
    mình tiếng gieo hò của sóng thác để thanh thản hoà mình vào một không gian mới,
    không khí mới trên chính con sông vừa mới đây thôi còn là đối thủ trong trận chiến
    sinh tử.

    Trang 15

    Khí phách hiên ngang, bất khuất trước những hiểm nguy, thử thách không chịu đầu
    hàng, lùi bước mà sẵn sàng đối mặt với một tâm thế bình thản, ung dung nhất có thể.
    Thậm chí, họ còn coi những hiểm nguy như một niềm sinh thú trong cuộc sống của
    mình.
    * Điểm chung: Coi những hiểm nguy nh...
     
    Gửi ý kiến