Trường THPT Diễn Châu 2 - Nghệ An. tháng 3/2023
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - NGUYỄN TUÂN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:46' 08-05-2024
Dung lượng: 579.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:46' 08-05-2024
Dung lượng: 579.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN
I. Giới thiệu chung:
– Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, uyên bác. “Chữ người tử tù” in trong tập “Vang
bóng một thời” (1938) là truyện ngắn tiêu biểu của ông trước Cách mạng tháng Tám.
– Qua vẻ đẹp của Huấn Cao, tác giả đã ca ngợi những người tài hoa, có nhân cách
và gởi gắm lòng yêu nước kín đáo, cảm động.
II. Nội dung chính:
1. Tình huống truyện độc đáo, thú vị:
– Độc đáo:
+ Người chơi chữ đẹp: viên Quản ngục
+ Người viết chữ đẹp: kẻ tử tù
– Thú vị:
+ Ngoài đời: hai người là kẻ thù
+ Tâm hồn: là hai người tri kỷ tri âm.
2. Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao:
a. Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa của một thời đã qua: “Tài viết chữ rất nhanh và
rất đẹp”, được mọi người thán phục và là niềm mơ ước, khát khao của viên Quản
ngục.
– Chữ của Huấn Cao còn là báu vật hiếm có trên đời
b. HC là người có khí phách hiên ngang: Ông coi thường bạo lực, dám chống lại
triều đình, khinh khi Quản ngục, “đến cảnh chết chém còn chẳng sợ” và bình tĩnh
chờ ngày thụ án - Bị tù về thể xác nhưng tự do trong tâm hồn.
Trang 1
c. Huấn Cao là người có nhân cách cao thượng, có thiên lương trong sáng:
– Vàng bạc và quyền thế không thể ép ông cho chữ.
– Rất trân trọng “thiên lương”.
– Nhân cách cao đẹp của ông thể hiện qua cảnh cho chữ trong tù –một việc làm “xưa
nay chưa từng có” - khẳng định cái đẹp, cái tài hoa đã chiến thắng cái xấu xa thấp
hèn.
– Lời khuyên của ông với Quản ngục thật chân thành cũng chứng minh nhân phẩm
và thiên lương tỏa sáng nơi bất lương ngự trị – Huấn Cao là hiện thân của phẩm chất
cao đẹp và cái tâm của người nghệ sĩ.
=> Tác giả đã dựa vào nguyên mẫu Cao Bá Quát - một nhà thơ có bản lĩnh thế kỷ
XIX để xây dựng hình tượng Huấn Cao với vẻ đẹp nhân cách đáng trân trọng.
3. Viên Quản ngục:
– Là người biết trân trọng cái tài, cái thiên lương, cái đẹp, chữ đẹp.
– Những suy nghĩ và hành động của ông với Huấn Cao đều thể hiện tấm lòng “biệt
nhỡn liên tài” và một khao khát đáng trân trọng: có chữ của ông Huấn Cao treo trong
nhà.
– Cái vái lạy của ông với Huấn Cao ở đoạn cuối là một lời thề thiêng liêng- khẳng
định cái đẹp và tài hoa đã cảm hóa nhân cách con người.
III. Kết luận:
– Bút pháp điêu luyện sắc sảo, ngôn ngữ cổ phong phú góp phần tạo nên thành công
của truyện.
– Truyện thể hiện tài năng và nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Tuân trước Cách mạng: Khai thác sự vật và con gnười dưới góc đột thẩm mĩ, tài hoa.
Trang 2
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
1. Giá trị nghệ thuật:
a. Nguyễn Tuân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ éo
le, kì lạ giữa hai nhân vật Huấn Cao với viên Quản ngục:
– Về không gian: chốn ngục thất mà Huấn Cao là tử tù còn viên Quản ngục là người
có uy quyền trông coi ngục thất.
–Về thời gian: đêm cuối cùng trước khí Huấn Cao bị chịu án chém.
– Đó là một cuộc gặp gỡ éo le giữa một tử tù ngang tang, khí phách và có nhân cách
cao đẹp lại viết chữ nho rất đẹp với một người coi tù thích chữ đẹp, đặc biệt là chữ
của tử tù Huấn Cao.
– Trên bình diện xã hội họ gặp nhau trong cảnh ngộ và vị thế đối kháng: Huấn Cao
cầm đầu khởi nghĩa chống lại triều đình, bị coi là giặc, bị khép tội đại nghịch và chờ
án chém; còn viên quản ngục đang phụng mệnh triều đình, là kẻ đại diện cho bộ máy
cai trị của chế độ đó. Nhưng điều kì diệu là 2 kẻ tưởng đối nghịch ấy đã trở thành tri
âm, tri kỉ.
– Nhưng ở một chiều sâu khác, đây là một cuộc gặp gỡ tất yếu:
+ Ở phương diện nghệ thuật, Huấn Cao là một tài năng hiếm thấy, “một ngôi sao
hôm nhấp nháy, một ngôi sao chính vị” mà tài viết chữ nho có một không hai trên
đời “cả vùng tỉnh Sơn ta đều khen”. Viên Quản ngục tuy là người không có tài nhưng
lại là người biết quý trọng cái tài, ông coi chữ của Huấn Cao là báu vật mà cả đời
khao khát.
+ Ở phương diện cá nhân con người: Huấn Cao sắp chết chém mà vẫn hiên ngang,
cao cả, bất chấp ngục tù và cái chết; còn ngục quan đang phụng mệnh triều đình lại
giám biệt đãi tử tù trong nhà ngục.
Huấn Cao là một người trọng nghĩa, khinh thường danh lợi, tấm lòng biết gạn đục,
khơi trong, đem cái tâm để đãi người biết quý trọng cái đẹp, trọng cái tâm và cái tài;
còn viên Quản ngục là một tấm lòng trong thiên hạ “một thanh âm trong trẻo giữa
một bản đàn mà nhạc luật hỗn loạn, xô bồ”.
Trang 3
Như vậy họ đã gặp nhau ở cả nhân cách và khí phách. Nhưng điều quan trọng chính
là cái chữ của người tử tù như chất keo kết dính những thứ đó lại với nhau. Chơi chữ
hay thư pháp là một nghệ thuật lâu đời. Trong đó vẻ đẹp của họa kết hợp với cái tinh
túy của văn tạo nên những bức câu đối, hoành phi, tứ bình vô giá. Người viết chữ và
người biết thưởng thức chữ đều là người có tâm hồn thanh cao mới có thể gặp nhau,
mới có thể trở thành tri âm, tri kỉ. Nhưng ông trời nhiều lúc chơi ác đem đầy ải những
cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã và những con người có tâm tính tốt ngay
thẳng lại phải ăn đời, ở kiếp với một lũ quay quắt. Đúng là một tình huống éo le
nhưng tất yếu giữa những người thực chất là tri âm, tri kĩ. Cuộc gặp gỡ này là thử
thách, làm nổi bật vẻ đẹp các nhân vật, làm cho truyện giàu kịch tính.
b. Nghệ thuật tạo không khí cổ xưa cho tác phẩm: Những chi tiết về cảnh, người của
một thời vang bóng. Sử dụng một loạt từ ngữ Hán - Việt rất đắt như: phiến chat, thầy
bát, thầy thơ lại, viên Quản ngục, thiên lương, án thư, pháp trường, bộ tứ bình, bức
trung đường, bái lĩnh… tạo nên mầu sắc lịch sử, cổ kính, bi tráng.
d. Sử dụng triệt để thủ pháp tương phản đối lập, cách khắc họa nhân vật theo bút
pháp lãng mạn, làm nổi bật gay gắt giữa cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, lí
tưởng và hiện thực. Cảnh cho chữ là cảnh chói sáng nhất trong tác phẩm. Nó vừa
thiêng liêng vừa tràn ngập ánh hào quang của cái đẹp. Cái đẹp tỏa ra từ phẩm chất,
khí phách, nhân cách của các nhân vật đặc biệt toát ra từ vẻ đẹp, cái hay của chữ
người tử tù HC đã tạo thành chất thơ huyền diệu của tác phẩm.
2. Về nội dung tư tưởng:
– Tác phẩm trở thành bài ca về cái đẹp, về những con người tài hoa sống đẹp, và
sáng tạo ra cái đẹp; là bài ca về lòng quý trọng cái đẹp cái tài; bài ca về sự gặp gỡ
giữa những tấm lòng đối với cái đẹp với nhân cách đẹp và những tấm lòng thiên
lương với nhau. Qua đó tác phẩm đã thể hiện được quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn
Tuân. Nhà văn khẳng định cái đẹp phải gắn với cái thiện (Lời khuyên của Huấn Cao
với viên quản ngục ở cuối truyện mang hàm ý: cái đẹp có thể nảy sinh từ mảnh đất
chết nhưng không thể sống chung với tội ác, con người chỉ xứng đáng được thưởng
thức cái đẹp khi giữ được thiên lương), cái đẹp phải có sức mạnh cảm hóa cái xấu,
cái ác; cái đẹp luôn chiến thắng và trở thành bất tử.
Trang 4
– Ca ngợi chữ người tử tù, ca ngợi và luyến tiếc một nhã thú văn hóa cổ truyền của
dân tộc đang lụi tàn dần trong xã hội thực dân, truyện Chữ Người Tử Tù là một áng
văn yêu nước, mang tinh thần dân tộc đậm đà. Lòng yêu nước thầm kín nhưng thiết
tha còn được thể hiện trong hình tượng nhân vật Huấn Cao. Nhân vật này được xây
dựng một phần bởi nguyên mẫu ngoài đời là Huấn đạo Cao Bá Quát (Nhà nho văn
võ song toàn mà tài văn đã được người đời ca ngời Siêu thần thánh Quát hoặc Văn
như Siêu Quát vô tiền Hán; Không chỉ có tài năng mà còn có nhân cách đẹp đã gửi
lại qua một câu nói nổi tiếng: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa). Với hình tượng Huấn
Cao, nhà văn đã kín đáo thể hiện niềm ngưỡng mộ, sự ca ngợi những người anh hùng
đã hi sinh vì nước, vì dân, mà hoàn cảnh lúc đó chưa cho phép tác giả được công
khai ca ngợi.
TÌNH HUỐNG TRUYỆN ĐỘC ĐÁO TRONG TRUYỆN NGẮN “CHỮ
NGƯỜI TỬ TÙ”
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề
– Nguyễn Tuân (1910-1987) là "người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp" và cũng là
cây bút rất mực tài hoa, uyên bác. Nhà văn thường quan sát, miêu tả thế giới ở
phương diện thẩm mĩ và đánh giá con người dưới góc độ tài hoa, nghệ sĩ.
– Chữ người tử tù là truyện ngắn trích trong tập Vang bóng một thời (1940) là tác
phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước Cách mạng, tác phẩm
được đánh giá là "gần đạt đến sự hoàn mĩ". Góp phần vào thành công nghệ thuật của
tác phẩm, không thể không nói đến nghệ thuật tạo tình huống độc đáo.
2. Phân tích
* Khái niệm tình huống truyện:
+ Tình huống truyện là "cái tình thế của câu chuyện", là cảnh huống chứa đựng trong
nó những mâu thuẫn, xung đột hoặc những khả năng tiềm tàng để cốt truyện diễn
tiến, phát triển, nhân vật bộc lộ tính cách.
+ Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm. Tình huống truyện có vai trò hết sức
quan trọng, được ví như "cái chìa khóa vận hành cốt truyện". Từ tình huống truyện,
Trang 5
các sự kiện, biến cố của cốt truyện được phát triển, tính cách nhân vật được bộc lộ.
Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột trong tình huống truyện sẽ bộc lộ rõ tư
tưởng chủ đề của tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác giả. Việc sáng tạo nên các
tình huống độc đáo biểu hiện khả năng quan sát, khám phá bản chất cuộc sống, bản
chất con người của nhà văn.
* Tình huống độc đáo của truyện ngắn Chữ người tử tù
+ Đó là cuộc gặp gỡ kì lạ đầy éo le, trớ trêu giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Nói
là cuộc gặp gỡ éo le và trớ trêu là bởi xét trên bình diện xã hội, Huấn Cao và quản
ngục là những kẻ đối địch nhau, là kẻ thù của nhau. Một người đấu tranh để lật đổ
cái trật tự xã hội hiện hành, một kẻ là đại diện cho cái trật tự mà người kia đang
muốn đánh đổ. Nhưng trên phương diện tài hoa, nhân cách, họ lại là những người
bạn tri âm, tri kỉ. Một người là nghệ sĩ, sáng tạo cái đẹp, một người biết thưởng thức
và trân trọng cái đẹp. Một người khí phách hiên ngang, cứng cỏi, một người ngưỡng
mộ khí phách.
+ Đó là một cuộc gặp gỡ kì lạ: không gian diễn ra cuộc gặp gỡ là nhà ngục, là phòng
giam ẩm thấp bẩn thỉu nơi vốn chỉ gợi nhắc đến sự tăm tối, bạo hành và tội ác. Thời
gian diễn ra cuộc gặp gỡ cũng rất ấn tượng: đó là những ngày cuối cùng của người
tử tù trước khi bị giải về kinh chịu án chém.
* Vai trò của tình huống truyện:
+ Thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm: khẳng định sự bất tử của cái đẹp, sự tất thắng
của cái chân, cái thiện, cái mĩ trong cuộc đối đầu với những gì xấu xa, tăm tối, độc
ác. Thông điệp nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua tình huống truyện là thông điệp
về sức mạnh cảm hóa kì diệu của nghệ thuật, của cái đẹp "Cái đẹp cứu rỗi nhân loại"
+ Bộc lộ tính cách nhân vật: Thông qua tình huống truyện, nhân vật Huấn Cao có cơ
hội bộc lộ rõ những phẩm chất cao đẹp: vừa hiên ngang, dũng liệt vừa tài hoa nghệ
sĩ lại giữ được cái tâm trong sáng. Còn quản ngục, qua tình huống éo le ấy, cũng thể
hiện mình là một người có khí phách, biết "biệt nhỡn liên tài", trân trọng tài năng và
khí phách của người anh hùng đồng thời là người vẫn giữ được thiên lương trong
sáng.
Trang 6
+ Thúc đẩy cốt truyện phát triển (tạo không khí căng thẳng, lôi cuốn): Từ tình huống
truyện, cốt truyện được triển khai, phát triển và lên đến cao trào trong cảnh cho chữ
cuối tác phẩm. Chính tình huống độc đáo đã tạo cho câu chuyện sự lôi cuốn, hấp dẫn
người đọc ngay từ đầu tác phẩm.
+ Thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: một người nghệ sĩ tài hoa,
đầy cá tính, luôn tìm tòi, khám phá cái đẹp, cái đẹp độc đáo, phi thường nhưng vẫn
mang giá trị nhân văn sâu sắc.
– Đánh giá chung: Tình huống truyện là một thành công nghệ thuật đặc sắc của tác
phẩm, góp phần tạo nên giá trị, sức hấp dẫn của tác phẩm đồng thời thể hiện rõ phong
cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Nguyễn Tuân.
PHÂN TÍCH NHÂN VẬT HUẤN CAO TRONG 'CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ'
Nguyễn Tuân, một nhà văn nổi tiếng của làng văn học Việt Nam; có những sáng tác
xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng, về cái đẹp tinh thần như
“chiếc ấm đất”, “chén trà sương”… và một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp chân dung
tài hoa trong thiên hạ, đó là Huấn Cao trong tác phầm Chữ người tử tù".
Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát với văn
chương “vô tiền Hán”, còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm
nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống
triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân
cách sang ngời và rất đỗi tài hoa.
Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ
đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong
sang của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp.
Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ. Chữ
viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ
của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang, tung hoành bốn
bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục
và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời.
Trang 7
Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được
chữ của Huấn Cao, “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là
chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết tinh
mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp
đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài
tâm vẹn toàn.
Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Ông theo
học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng. Nhưng
ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại
nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương
cho nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn
bạo thối nát. Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của
người dân “thấp cổ bé họng”.
Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh
hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu
tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông
bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước
khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có
tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là
một con người hiếm có trên đời.
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi
hành án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao
vẫn giữ được khí phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng
ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền
đá tảng đánh thuỵch một cái” và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính
áp giải.
Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự
giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu goong, ông
vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dùng
cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục!
Trang 8
Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm
trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi
Huấn Cao cần gì thì ông trả lời: “Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là
ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi”.
Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn
hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là…” Ông không
thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức
được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ
bẩn “cặn bã” của xã hội.
“Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong
sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương”,
bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý.
Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Huấn Cao không nhữg vui vẻ
nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng: “Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các
ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như
vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”.
Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh. Ta không vì
vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ”. Hành động cho chữ viên quản ngụ
chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng niu
những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình.
Quang cảnh “cho chữ” diễn ra thật lạ, quả là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Kẻ
tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa
bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại, Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng
nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ
chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người
đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi,
để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp
lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người.
Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm
giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo
con: “Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở
Trang 9
đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái
đời lương thiện”. Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được.
Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng
mà thôi.
Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi. Huấn Cao,
người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho
những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi
đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của
cuộc đời này. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ
không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh
phúc cho mọi người ở mọi nơi.
Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm”
và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài
hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa
thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành
công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học
thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong
lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.
BÚT PHÁP LÃNG MẠN TRONG CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Trong trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, Nguyễn Tuân nổi lên như
một gương mặt tiêu biểu của mảng sáng tác văn xuôi với những tác phẩm mang một
phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn. Sáng tác của Nguyễn Tuân dù là truyện ngắn,
tiểu thuyết hay tuỳ bút, trước 1945, đều là tiếng nói của một tâm hồn lãng mạn, một
tài năng mẫu mực của nghệ thuật ngôn từ.
Trong sự nghiệp Nguyễn Tuân, tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” là một mốc
son đậm nét giúp người đọc hiểu và gần Nguyễn Tuân hơn, một Nguyễn Tuân tài
ba, uyên bác và làm chủ gần như tuyệt đối vốn tiếng Việt phong phú, dồi dào và đầy
sáng tạo. Tập truyện ngắn này của Nguyễn Tuân cũng là một thành tựu rực rỡ của
văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, hội tụ trong đó những yếu tố thẩm mỹ và
Trang 10
nguyên tắc sáng tác của phương pháp sáng tác này. Truyện ngắn “Chữ người tử tù”
là một trong số đó.
Trong “Chữ người tử tù” nói riêng và tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” nói
chung, Nguyễn Tuân đã dựng lại những mảnh của cuộc sống một thời đã qua, một
thời vang bóng. Cả một dấu xưa vàng son, quá vãng nay trở về sáng lại trên mỗi
trang văn với vẻ đẹp mê hồn, có khi rùng rợn mang đầy nuối tiếc, bâng khuâng.
Truyện tuy ngắn nhưng cũng đủ để nhà văn vẽ ra một sự tương phản giữa cái lý
tưởng và hoàn cảnh thực tại, giữa cái Thiện và cái Ác, giữa ánh sáng và bóng tối.
Nhân vật Huấn Cao, quản ngục, thầy thư lại là một bộ ba nhân vật mà trong đó chỉ
Huấn Cao là có tên (một cái tên cũng khá mơ hồ gồm tên gọi tắt của chức vụ (Huấn)
đi kèm với họ (Cao) nhưng vẫn sáng lên như những nốt nhấn giữa một mặt bằng tăm
tối. Có thể nói hoàn cảnh nhà lao nói riêng và hoàn cảnh xã hội nói chung đã giam
hãm những con người trong sạch đó vào cái lồng thiên địa chật hẹp và bó buộc, là
một không gian thù địch và luôn ẩn chứa sức phá hoại đối với cái Tài, cái Đẹp, cái
Thiên lương. Nhân vật quản ngục và thư lại là những con người trung gian mà Huấn
Cao là nhân vật lý tưởng, mẫu hình lý tưởng đối lập với cuộc sống đang níu giữ, kéo
ghì quản ngục và thư lại xuống. Quản ngục và thư lại sống lẫn trong cuộc sống đó,
Huấn Cao vượt lên khỏi cuộc sống đó nhưng xét đến cùng họ đều là nhân vật của
văn học lãng mạn. Huấn Cao sống một cuộc sống mà bình sinh chọc trời khuấy nước
mặc dầu với những hình tích và hành trạng bí ẩn đầy màu sắc truyền thuyết. Con
người ấy đối lập mình với thế giới, với chế độ mà mình đang sống bởi tự ý thức được
mình, ý thức được phẩm giá của mình, kiêu hãnh đứng riêng ra và cao hơn với xung
quanh và cảm thấy cô độc trong niềm kiêu hãnh đó. Tuy quản ngục và thầy thư lại
không được như Huấn Cao nhưng họ vẫn là những người xa lạ với hoàn cảnh của
mình đang sống. “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa
lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người (…) của viên quan coi ngục này là một
thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”.
Họ sống lạc lõng với xung quanh, là những người chọn nhầm nghề bởi nơi họ sống
là một nơi “lẫn lộn (…) khó giữ thiên lương”, là nơi mà những cái thuần khiết bị đày
ải giữa một đống cặn bã. Giữa cảnh sống đó, nhân cách và tài năng của Huấn Cao
càng rực sáng hơn, Huấn Cao đã vượt lên khỏi những ràng buộc của hoàn cảnh để
sống với chính bản thân mình dù rằng ông đang ở trong cảnh tù đày, cá nằm trên
thớt. Nguyễn Tuân đã dùng những lời thật đẹp để tả lại khung cảnh “một ngôi sao
Trang 11
Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân trời không định (…); bấy nhiêu âm
thanh phức tạp bay cao dần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị
muốn từ biệt vũ trụ…”. Những câu văn bay bổng, tài hoa đó đã nói lên phần nào
lòng yêu mến của nhà văn với các nhân vật lý tưởng của mình.
Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một bức tranh gồm nhiều mảng màu khác nhau,
phân rõ tối sáng, đậm nhạt mà trong đó cái Thiện và cái Ác, ánh sáng và bóng tối
luôn tương phản với nhau. Có thể nói, ngay ước muốn xin chữ Huấn Cao của viên
quản ngục đã là một ý định đầy chất lãng mạn. Ước mơ đó đã là cái nền nâng đỡ cho
hàng loạt chi tiết sau này để những mảng màu tương phản được bày ra. Cảnh tượng
Huấn Cao cho chữ là tột đỉnh của quan điểm lãng mạn mà tại điểm hội tụ đó cái
Thiện chiến thắng cái Ác, ánh sáng đã lấn át bóng tối và quan trọng hơn là sự phát
triển của tính cách nhân vật không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Tính cách, cảm
xúc của nhân vật đã vượt lên trên hoàn cảnh. Nguyễn Tuân đã nói đó là “một cảnh
tượng xưa nay chưa từng có” và chúng ta có thể nói nếu theo logic thông thường của
cuộc sống thì đó là một cảnh tượng “không thể có”. Ở đây các nhân vật đã quên đi
tất cả, quên đi địa vị, danh phận, địa điểm mình đang đứng mà chỉ sống với cái đẹp,
hướng tới ánh sáng, thưởng thức chung một nét chữ, cảm nhận cùng một mùi thơm
của mực. Trong bức tranh sơn dầu đó, Huấn Cao có cái đẹp lan toả của một người
nghệ sĩ còn viên quản ngục và thầy thư lại có cái đẹp của lòng biệt nhỡn liên tài, vẻ
đẹp của thiên lương còn giữ được giữa bao quay cuồng đen trắng. Từ hành động rỗ
gông của Huấn Cao ở đầu truyện tới việc Huấn Cao viết chữ ở cuối truyện là sự
thống nhất nhân cách của một nhân vật lãng mạn. Quản ngục, thư lại là hai nhân vật
nâng đỡ nhưng cũng đẹp và đầy chất thơ – chất thơ của cái đẹp, của tài hoa đối lập
và vượt lên khỏi thực tại tầm thường, tăm tối. Câu nói “Xin lĩnh ý” của viên quản
ngục khi bị Huấn Cao quát đuổi ra ngoài chỉ đơn thuần là một sự nhũn nhặn nhưng
câu nói “Xin bái lĩnh” của chính nhân vật này ở cuối truyện, nói sau khi được Huấn
Cao cho chữ và khuyên bảo lại là một nét đẹp của một tâm hồn hướng thiện, yêu
mến tài hoa.
Trong sáng tác của các nhà văn lãng mạn, người ta có thể nhận ra được hình bóng
nhà văn trong nhân vật lý tưởng của mình. Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” là một
nhân vật như thế. Hành trạng một đời tung hoành không biết trên đầu có ai cùng sự
tài hoa, ngông nghênh của ông Huấn cũng là một phần tâm hồn Nguyễn Tuân gửi
vào trong đó. Con người Nguyễn Tuân ở ngoài đời cũng như con người ông trong
Trang 12
văn chương và các nhân vật của ông có những nét chồng khít đến kỳ lạ mà trong đó
sự tài hoa, ngang tàng, phóng túng là mẫu số chung của những phân số đó. Con
người nghệ sĩ ấy không chấp nhận cái tầm thường xung quanh, muốn nổi loạn với
tất cả mà ở đây hình mẫu lịch sử của nhân vật Huấn Cao (một số nhà nghiên cứu nói
là Cao Bá Quát) chỉ còn tiếng vọng. Cũng chính con người nghệ sĩ trong Nguyễn
Tuân đã giúp ông bỏ đi phần kết của truyện này khi in trên báo, không đưa vào trong
tập sách “Vang bóng một thời”. Khi truyện ngắn “Vang bóng một thời” in lần đầu
trên báo, sau khi nói “Xin bái lĩnh”, viên quản ngục đã nghĩ rằng mình đã có “lời”,
có “lãi” khi biệt đãi Huấn Cao và nhận được bức châm do chính tay Huấn Cao viết.
Cái kết này đã bị lược bỏ khi truyện được in thành sách và chính sự lược bỏ đó đã
làm cho truyện thành công hơn, cuốn hút hơn. Truyện cuốn hút vì nó là một khối
lãng mạn thực sự mà không bị những ý nghĩ vụ lợi xen vào dù chỉ trong từng chi tiết
nhỏ. Đó chính là quan niệm cái Đẹp không gắn liền với cái hữu ích, cái Đẹp đối lập
với cái vụ lợi, như Nguyễn Tuân từng nói: “Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn coi
là vô giá trị…”.
“Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng
mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành
công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng
tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực
sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn
cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái
Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
SO SÁNH HAI HÌNH TƯỢNG HUẤN CAO VÀ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Đề thi: So sánh hai nhân vật Huấn Cao (truyện ngắn “Chữ người tử tù”) và ông
lái đò (tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”) để làm nổi bật cách xây dựng nhân vật
của nhà văn Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng.
GỢI Ý
1. Hoàn cảnh
Trang 13
* Điểm chung
– Phải đối mặt với một môi trường sống chứa đựng nhiều nguy hiểm, đầy thử thách.
– Môi trường ấy đồng thời cũng là cơ hội để họ bộc lộ trọn vẹn những vẻ đẹp độc
đáo trong tâm hồn, tính cách, khả năng của họ.
* Điểm riêng
– Huấn Cao
+ Chế độ phong kiến suy tàn, bắt đầu bộc lộ tính chất xấu xa, đen tối.
+ Vì chống lại triều đình phong kiến mà Huấn Cao đã bị bắt, bị xử án tử hình, bị
giam cầm để chờ ngày ra pháp trường chịu án chém. Những ngày cuối cùng của cuộc
đời ông phải sống trong buồng giam tử tù, nơi không có chỗ cho sự tồn tại của thiên
lương hay cái đẹp. Do đó, Huấn Cao luôn phải chuẩn bị tâm thế cho những trò đốn
mạt, cạm bẫy xấu xa của kẻ tiểu nhân.
– Ông lái đò
+ Môi trường lao động đầy nguy hiểm: Con sông Đà hung bạo, độc dữ như kẻ thù
số một.
+ Công việc lái đò lại là công việc dễ tổn thọ bởi nó đầy những hiểm nguy, buộc
người lái đò phải luôn tay, luôn mắt, luôn gân, luôn tim. Nguy hiểm nhất là những
lần vượt thác – nơi dòng sông thể hiện đầy đủ nhất cái uy lực khủng khiếp của nó.
2. Đặc điểm:
Tài năng phi phàm, xuất chúng:
– Huấn Cao:
+ Tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật – đòi hỏi sự uyên bác và một tâm hồn phóng
khoáng.
+ Tài viết chữ: Nét chữ vuông vắn, tươi tắn, viết nhanh và đẹp. Hồn chữ – điều được
kí thác trong từng nét chữ là hoài bão tung hoành của một đời người. Danh tiếng:
chữ Huấn Cao nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn đến kẻ vô danh tiểu tốt cũng biết đến
Trang 14
mà ngưỡng mộ. Chữ Huấn Cao là một vật báu ở đời, là niềm ao ước của những ai
có sự am hiểu về chữ thánh hiền và cảm nhận được giá trị của cái đẹp. Chữ Huấn
Cao có khả năng lay động, chinh phục lòng người.
– Ông lái đò
Tài năng bộc lộ trong lao động với một công việc rất bình thường: lái đò
+ Tay lái ra hoa: Những động tác chèo lái chứa đựng vẻ đẹp. Cái đẹp đời thường,
giản dị mà cũng vô cùng độc đáo.
+ Linh hoạt trong từng động tác để ứng phó, hoá giải những đòn đánh, thế tấn công
của con sông không chỉ độc dữ mà còn có khả năng quân sự tuyệt vời.
Sông Đà đã phối hợp được sức mạnh của cả đá và nước. Ông lái đò chỉ đứng trên
một con thuyền với một mái chèo, một mình đơn độc giữ bao la sóng thác. Đá sông
Đà dàn thạch trận với những cửa sinh, của tử biến ảo không lường. Nước sông Đà
có những thế võ và sức mạnh đủ để quật ngã những tay lái non gan và ít kinh nghiệm.
mái chèo chỉ là một công cụ bình thường nhưng khi ở trong tay ông lái đò lại như
một cây đũa thần, giúp ông ổn định thế trận, hoá giải sức mạnh của mọi đòn tấn
công.
Với sự linh hoạt của động tác, ông lái đò đã đưa chiếc thuyền vượt qua thạch trận.
Lúc thì đè sấn lên sóng thác mà đi, chặt đôi sóng mà tiến,… Con thuyền dưới sự điều
khiển của ông lái đò khi tiến khi thoái, khi công khi thủ. Có lúc nó lao vút như một
mũi tên tre, xuyên nhanh qua nước, vừa bơi, vừa tự dộng lái được, lượn được.
Qua mỗi trùng vi thạch trận, ông lái đò lại đổi tay lái và đổi luôn chiến thuật. Trong
trận chiến trên sông, không phải không có lúc người lái đò méo bệch mặt đi vì những
vết thương bởi sóng đánh đòn âm, đòn tỉa vào chỗ hiểm. Nhưng chính nhờ xự linh
hoạt của động tác, sự biến hoá của chiến thuật đã khiến cho lũ đá nơi ải nước phải
tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng. Con thuyền của ông lái đò đã bỏ lại phía sau
mình tiếng gieo hò của sóng thác để thanh thản hoà mình vào một không gian mới,
không khí mới trên chính con sông vừa mới đây thôi còn là đối thủ trong trận chiến
sinh tử.
Trang 15
Khí phách hiên ngang, bất khuất trước những hiểm nguy, thử thách không chịu đầu
hàng, lùi bước mà sẵn sàng đối mặt với một tâm thế bình thản, ung dung nhất có thể.
Thậm chí, họ còn coi những hiểm nguy như một niềm sinh thú trong cuộc sống của
mình.
* Điểm chung: Coi những hiểm nguy nh...
I. Giới thiệu chung:
– Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, uyên bác. “Chữ người tử tù” in trong tập “Vang
bóng một thời” (1938) là truyện ngắn tiêu biểu của ông trước Cách mạng tháng Tám.
– Qua vẻ đẹp của Huấn Cao, tác giả đã ca ngợi những người tài hoa, có nhân cách
và gởi gắm lòng yêu nước kín đáo, cảm động.
II. Nội dung chính:
1. Tình huống truyện độc đáo, thú vị:
– Độc đáo:
+ Người chơi chữ đẹp: viên Quản ngục
+ Người viết chữ đẹp: kẻ tử tù
– Thú vị:
+ Ngoài đời: hai người là kẻ thù
+ Tâm hồn: là hai người tri kỷ tri âm.
2. Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao:
a. Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa của một thời đã qua: “Tài viết chữ rất nhanh và
rất đẹp”, được mọi người thán phục và là niềm mơ ước, khát khao của viên Quản
ngục.
– Chữ của Huấn Cao còn là báu vật hiếm có trên đời
b. HC là người có khí phách hiên ngang: Ông coi thường bạo lực, dám chống lại
triều đình, khinh khi Quản ngục, “đến cảnh chết chém còn chẳng sợ” và bình tĩnh
chờ ngày thụ án - Bị tù về thể xác nhưng tự do trong tâm hồn.
Trang 1
c. Huấn Cao là người có nhân cách cao thượng, có thiên lương trong sáng:
– Vàng bạc và quyền thế không thể ép ông cho chữ.
– Rất trân trọng “thiên lương”.
– Nhân cách cao đẹp của ông thể hiện qua cảnh cho chữ trong tù –một việc làm “xưa
nay chưa từng có” - khẳng định cái đẹp, cái tài hoa đã chiến thắng cái xấu xa thấp
hèn.
– Lời khuyên của ông với Quản ngục thật chân thành cũng chứng minh nhân phẩm
và thiên lương tỏa sáng nơi bất lương ngự trị – Huấn Cao là hiện thân của phẩm chất
cao đẹp và cái tâm của người nghệ sĩ.
=> Tác giả đã dựa vào nguyên mẫu Cao Bá Quát - một nhà thơ có bản lĩnh thế kỷ
XIX để xây dựng hình tượng Huấn Cao với vẻ đẹp nhân cách đáng trân trọng.
3. Viên Quản ngục:
– Là người biết trân trọng cái tài, cái thiên lương, cái đẹp, chữ đẹp.
– Những suy nghĩ và hành động của ông với Huấn Cao đều thể hiện tấm lòng “biệt
nhỡn liên tài” và một khao khát đáng trân trọng: có chữ của ông Huấn Cao treo trong
nhà.
– Cái vái lạy của ông với Huấn Cao ở đoạn cuối là một lời thề thiêng liêng- khẳng
định cái đẹp và tài hoa đã cảm hóa nhân cách con người.
III. Kết luận:
– Bút pháp điêu luyện sắc sảo, ngôn ngữ cổ phong phú góp phần tạo nên thành công
của truyện.
– Truyện thể hiện tài năng và nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Tuân trước Cách mạng: Khai thác sự vật và con gnười dưới góc đột thẩm mĩ, tài hoa.
Trang 2
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
1. Giá trị nghệ thuật:
a. Nguyễn Tuân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ éo
le, kì lạ giữa hai nhân vật Huấn Cao với viên Quản ngục:
– Về không gian: chốn ngục thất mà Huấn Cao là tử tù còn viên Quản ngục là người
có uy quyền trông coi ngục thất.
–Về thời gian: đêm cuối cùng trước khí Huấn Cao bị chịu án chém.
– Đó là một cuộc gặp gỡ éo le giữa một tử tù ngang tang, khí phách và có nhân cách
cao đẹp lại viết chữ nho rất đẹp với một người coi tù thích chữ đẹp, đặc biệt là chữ
của tử tù Huấn Cao.
– Trên bình diện xã hội họ gặp nhau trong cảnh ngộ và vị thế đối kháng: Huấn Cao
cầm đầu khởi nghĩa chống lại triều đình, bị coi là giặc, bị khép tội đại nghịch và chờ
án chém; còn viên quản ngục đang phụng mệnh triều đình, là kẻ đại diện cho bộ máy
cai trị của chế độ đó. Nhưng điều kì diệu là 2 kẻ tưởng đối nghịch ấy đã trở thành tri
âm, tri kỉ.
– Nhưng ở một chiều sâu khác, đây là một cuộc gặp gỡ tất yếu:
+ Ở phương diện nghệ thuật, Huấn Cao là một tài năng hiếm thấy, “một ngôi sao
hôm nhấp nháy, một ngôi sao chính vị” mà tài viết chữ nho có một không hai trên
đời “cả vùng tỉnh Sơn ta đều khen”. Viên Quản ngục tuy là người không có tài nhưng
lại là người biết quý trọng cái tài, ông coi chữ của Huấn Cao là báu vật mà cả đời
khao khát.
+ Ở phương diện cá nhân con người: Huấn Cao sắp chết chém mà vẫn hiên ngang,
cao cả, bất chấp ngục tù và cái chết; còn ngục quan đang phụng mệnh triều đình lại
giám biệt đãi tử tù trong nhà ngục.
Huấn Cao là một người trọng nghĩa, khinh thường danh lợi, tấm lòng biết gạn đục,
khơi trong, đem cái tâm để đãi người biết quý trọng cái đẹp, trọng cái tâm và cái tài;
còn viên Quản ngục là một tấm lòng trong thiên hạ “một thanh âm trong trẻo giữa
một bản đàn mà nhạc luật hỗn loạn, xô bồ”.
Trang 3
Như vậy họ đã gặp nhau ở cả nhân cách và khí phách. Nhưng điều quan trọng chính
là cái chữ của người tử tù như chất keo kết dính những thứ đó lại với nhau. Chơi chữ
hay thư pháp là một nghệ thuật lâu đời. Trong đó vẻ đẹp của họa kết hợp với cái tinh
túy của văn tạo nên những bức câu đối, hoành phi, tứ bình vô giá. Người viết chữ và
người biết thưởng thức chữ đều là người có tâm hồn thanh cao mới có thể gặp nhau,
mới có thể trở thành tri âm, tri kỉ. Nhưng ông trời nhiều lúc chơi ác đem đầy ải những
cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã và những con người có tâm tính tốt ngay
thẳng lại phải ăn đời, ở kiếp với một lũ quay quắt. Đúng là một tình huống éo le
nhưng tất yếu giữa những người thực chất là tri âm, tri kĩ. Cuộc gặp gỡ này là thử
thách, làm nổi bật vẻ đẹp các nhân vật, làm cho truyện giàu kịch tính.
b. Nghệ thuật tạo không khí cổ xưa cho tác phẩm: Những chi tiết về cảnh, người của
một thời vang bóng. Sử dụng một loạt từ ngữ Hán - Việt rất đắt như: phiến chat, thầy
bát, thầy thơ lại, viên Quản ngục, thiên lương, án thư, pháp trường, bộ tứ bình, bức
trung đường, bái lĩnh… tạo nên mầu sắc lịch sử, cổ kính, bi tráng.
d. Sử dụng triệt để thủ pháp tương phản đối lập, cách khắc họa nhân vật theo bút
pháp lãng mạn, làm nổi bật gay gắt giữa cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, lí
tưởng và hiện thực. Cảnh cho chữ là cảnh chói sáng nhất trong tác phẩm. Nó vừa
thiêng liêng vừa tràn ngập ánh hào quang của cái đẹp. Cái đẹp tỏa ra từ phẩm chất,
khí phách, nhân cách của các nhân vật đặc biệt toát ra từ vẻ đẹp, cái hay của chữ
người tử tù HC đã tạo thành chất thơ huyền diệu của tác phẩm.
2. Về nội dung tư tưởng:
– Tác phẩm trở thành bài ca về cái đẹp, về những con người tài hoa sống đẹp, và
sáng tạo ra cái đẹp; là bài ca về lòng quý trọng cái đẹp cái tài; bài ca về sự gặp gỡ
giữa những tấm lòng đối với cái đẹp với nhân cách đẹp và những tấm lòng thiên
lương với nhau. Qua đó tác phẩm đã thể hiện được quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn
Tuân. Nhà văn khẳng định cái đẹp phải gắn với cái thiện (Lời khuyên của Huấn Cao
với viên quản ngục ở cuối truyện mang hàm ý: cái đẹp có thể nảy sinh từ mảnh đất
chết nhưng không thể sống chung với tội ác, con người chỉ xứng đáng được thưởng
thức cái đẹp khi giữ được thiên lương), cái đẹp phải có sức mạnh cảm hóa cái xấu,
cái ác; cái đẹp luôn chiến thắng và trở thành bất tử.
Trang 4
– Ca ngợi chữ người tử tù, ca ngợi và luyến tiếc một nhã thú văn hóa cổ truyền của
dân tộc đang lụi tàn dần trong xã hội thực dân, truyện Chữ Người Tử Tù là một áng
văn yêu nước, mang tinh thần dân tộc đậm đà. Lòng yêu nước thầm kín nhưng thiết
tha còn được thể hiện trong hình tượng nhân vật Huấn Cao. Nhân vật này được xây
dựng một phần bởi nguyên mẫu ngoài đời là Huấn đạo Cao Bá Quát (Nhà nho văn
võ song toàn mà tài văn đã được người đời ca ngời Siêu thần thánh Quát hoặc Văn
như Siêu Quát vô tiền Hán; Không chỉ có tài năng mà còn có nhân cách đẹp đã gửi
lại qua một câu nói nổi tiếng: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa). Với hình tượng Huấn
Cao, nhà văn đã kín đáo thể hiện niềm ngưỡng mộ, sự ca ngợi những người anh hùng
đã hi sinh vì nước, vì dân, mà hoàn cảnh lúc đó chưa cho phép tác giả được công
khai ca ngợi.
TÌNH HUỐNG TRUYỆN ĐỘC ĐÁO TRONG TRUYỆN NGẮN “CHỮ
NGƯỜI TỬ TÙ”
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề
– Nguyễn Tuân (1910-1987) là "người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp" và cũng là
cây bút rất mực tài hoa, uyên bác. Nhà văn thường quan sát, miêu tả thế giới ở
phương diện thẩm mĩ và đánh giá con người dưới góc độ tài hoa, nghệ sĩ.
– Chữ người tử tù là truyện ngắn trích trong tập Vang bóng một thời (1940) là tác
phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước Cách mạng, tác phẩm
được đánh giá là "gần đạt đến sự hoàn mĩ". Góp phần vào thành công nghệ thuật của
tác phẩm, không thể không nói đến nghệ thuật tạo tình huống độc đáo.
2. Phân tích
* Khái niệm tình huống truyện:
+ Tình huống truyện là "cái tình thế của câu chuyện", là cảnh huống chứa đựng trong
nó những mâu thuẫn, xung đột hoặc những khả năng tiềm tàng để cốt truyện diễn
tiến, phát triển, nhân vật bộc lộ tính cách.
+ Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm. Tình huống truyện có vai trò hết sức
quan trọng, được ví như "cái chìa khóa vận hành cốt truyện". Từ tình huống truyện,
Trang 5
các sự kiện, biến cố của cốt truyện được phát triển, tính cách nhân vật được bộc lộ.
Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột trong tình huống truyện sẽ bộc lộ rõ tư
tưởng chủ đề của tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác giả. Việc sáng tạo nên các
tình huống độc đáo biểu hiện khả năng quan sát, khám phá bản chất cuộc sống, bản
chất con người của nhà văn.
* Tình huống độc đáo của truyện ngắn Chữ người tử tù
+ Đó là cuộc gặp gỡ kì lạ đầy éo le, trớ trêu giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Nói
là cuộc gặp gỡ éo le và trớ trêu là bởi xét trên bình diện xã hội, Huấn Cao và quản
ngục là những kẻ đối địch nhau, là kẻ thù của nhau. Một người đấu tranh để lật đổ
cái trật tự xã hội hiện hành, một kẻ là đại diện cho cái trật tự mà người kia đang
muốn đánh đổ. Nhưng trên phương diện tài hoa, nhân cách, họ lại là những người
bạn tri âm, tri kỉ. Một người là nghệ sĩ, sáng tạo cái đẹp, một người biết thưởng thức
và trân trọng cái đẹp. Một người khí phách hiên ngang, cứng cỏi, một người ngưỡng
mộ khí phách.
+ Đó là một cuộc gặp gỡ kì lạ: không gian diễn ra cuộc gặp gỡ là nhà ngục, là phòng
giam ẩm thấp bẩn thỉu nơi vốn chỉ gợi nhắc đến sự tăm tối, bạo hành và tội ác. Thời
gian diễn ra cuộc gặp gỡ cũng rất ấn tượng: đó là những ngày cuối cùng của người
tử tù trước khi bị giải về kinh chịu án chém.
* Vai trò của tình huống truyện:
+ Thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm: khẳng định sự bất tử của cái đẹp, sự tất thắng
của cái chân, cái thiện, cái mĩ trong cuộc đối đầu với những gì xấu xa, tăm tối, độc
ác. Thông điệp nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua tình huống truyện là thông điệp
về sức mạnh cảm hóa kì diệu của nghệ thuật, của cái đẹp "Cái đẹp cứu rỗi nhân loại"
+ Bộc lộ tính cách nhân vật: Thông qua tình huống truyện, nhân vật Huấn Cao có cơ
hội bộc lộ rõ những phẩm chất cao đẹp: vừa hiên ngang, dũng liệt vừa tài hoa nghệ
sĩ lại giữ được cái tâm trong sáng. Còn quản ngục, qua tình huống éo le ấy, cũng thể
hiện mình là một người có khí phách, biết "biệt nhỡn liên tài", trân trọng tài năng và
khí phách của người anh hùng đồng thời là người vẫn giữ được thiên lương trong
sáng.
Trang 6
+ Thúc đẩy cốt truyện phát triển (tạo không khí căng thẳng, lôi cuốn): Từ tình huống
truyện, cốt truyện được triển khai, phát triển và lên đến cao trào trong cảnh cho chữ
cuối tác phẩm. Chính tình huống độc đáo đã tạo cho câu chuyện sự lôi cuốn, hấp dẫn
người đọc ngay từ đầu tác phẩm.
+ Thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân: một người nghệ sĩ tài hoa,
đầy cá tính, luôn tìm tòi, khám phá cái đẹp, cái đẹp độc đáo, phi thường nhưng vẫn
mang giá trị nhân văn sâu sắc.
– Đánh giá chung: Tình huống truyện là một thành công nghệ thuật đặc sắc của tác
phẩm, góp phần tạo nên giá trị, sức hấp dẫn của tác phẩm đồng thời thể hiện rõ phong
cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Nguyễn Tuân.
PHÂN TÍCH NHÂN VẬT HUẤN CAO TRONG 'CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ'
Nguyễn Tuân, một nhà văn nổi tiếng của làng văn học Việt Nam; có những sáng tác
xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng, về cái đẹp tinh thần như
“chiếc ấm đất”, “chén trà sương”… và một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp chân dung
tài hoa trong thiên hạ, đó là Huấn Cao trong tác phầm Chữ người tử tù".
Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát với văn
chương “vô tiền Hán”, còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm
nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống
triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân
cách sang ngời và rất đỗi tài hoa.
Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ
đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong
sang của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp.
Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ. Chữ
viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ
của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang, tung hoành bốn
bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục
và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời.
Trang 7
Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được
chữ của Huấn Cao, “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là
chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết tinh
mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp
đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài
tâm vẹn toàn.
Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Ông theo
học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng. Nhưng
ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại
nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương
cho nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn
bạo thối nát. Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của
người dân “thấp cổ bé họng”.
Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh
hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu
tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông
bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước
khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có
tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là
một con người hiếm có trên đời.
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi
hành án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao
vẫn giữ được khí phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng
ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền
đá tảng đánh thuỵch một cái” và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính
áp giải.
Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự
giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu goong, ông
vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dùng
cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục!
Trang 8
Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm
trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi
Huấn Cao cần gì thì ông trả lời: “Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là
ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi”.
Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn
hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là…” Ông không
thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức
được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ
bẩn “cặn bã” của xã hội.
“Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong
sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương”,
bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý.
Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Huấn Cao không nhữg vui vẻ
nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng: “Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các
ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như
vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”.
Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh. Ta không vì
vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ”. Hành động cho chữ viên quản ngụ
chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng niu
những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình.
Quang cảnh “cho chữ” diễn ra thật lạ, quả là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Kẻ
tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa
bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại, Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng
nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ
chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người
đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi,
để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp
lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người.
Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm
giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo
con: “Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở
Trang 9
đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái
đời lương thiện”. Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được.
Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng
mà thôi.
Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi. Huấn Cao,
người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho
những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi
đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của
cuộc đời này. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ
không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh
phúc cho mọi người ở mọi nơi.
Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm”
và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài
hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa
thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành
công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học
thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong
lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.
BÚT PHÁP LÃNG MẠN TRONG CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Trong trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, Nguyễn Tuân nổi lên như
một gương mặt tiêu biểu của mảng sáng tác văn xuôi với những tác phẩm mang một
phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn. Sáng tác của Nguyễn Tuân dù là truyện ngắn,
tiểu thuyết hay tuỳ bút, trước 1945, đều là tiếng nói của một tâm hồn lãng mạn, một
tài năng mẫu mực của nghệ thuật ngôn từ.
Trong sự nghiệp Nguyễn Tuân, tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” là một mốc
son đậm nét giúp người đọc hiểu và gần Nguyễn Tuân hơn, một Nguyễn Tuân tài
ba, uyên bác và làm chủ gần như tuyệt đối vốn tiếng Việt phong phú, dồi dào và đầy
sáng tạo. Tập truyện ngắn này của Nguyễn Tuân cũng là một thành tựu rực rỡ của
văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, hội tụ trong đó những yếu tố thẩm mỹ và
Trang 10
nguyên tắc sáng tác của phương pháp sáng tác này. Truyện ngắn “Chữ người tử tù”
là một trong số đó.
Trong “Chữ người tử tù” nói riêng và tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” nói
chung, Nguyễn Tuân đã dựng lại những mảnh của cuộc sống một thời đã qua, một
thời vang bóng. Cả một dấu xưa vàng son, quá vãng nay trở về sáng lại trên mỗi
trang văn với vẻ đẹp mê hồn, có khi rùng rợn mang đầy nuối tiếc, bâng khuâng.
Truyện tuy ngắn nhưng cũng đủ để nhà văn vẽ ra một sự tương phản giữa cái lý
tưởng và hoàn cảnh thực tại, giữa cái Thiện và cái Ác, giữa ánh sáng và bóng tối.
Nhân vật Huấn Cao, quản ngục, thầy thư lại là một bộ ba nhân vật mà trong đó chỉ
Huấn Cao là có tên (một cái tên cũng khá mơ hồ gồm tên gọi tắt của chức vụ (Huấn)
đi kèm với họ (Cao) nhưng vẫn sáng lên như những nốt nhấn giữa một mặt bằng tăm
tối. Có thể nói hoàn cảnh nhà lao nói riêng và hoàn cảnh xã hội nói chung đã giam
hãm những con người trong sạch đó vào cái lồng thiên địa chật hẹp và bó buộc, là
một không gian thù địch và luôn ẩn chứa sức phá hoại đối với cái Tài, cái Đẹp, cái
Thiên lương. Nhân vật quản ngục và thư lại là những con người trung gian mà Huấn
Cao là nhân vật lý tưởng, mẫu hình lý tưởng đối lập với cuộc sống đang níu giữ, kéo
ghì quản ngục và thư lại xuống. Quản ngục và thư lại sống lẫn trong cuộc sống đó,
Huấn Cao vượt lên khỏi cuộc sống đó nhưng xét đến cùng họ đều là nhân vật của
văn học lãng mạn. Huấn Cao sống một cuộc sống mà bình sinh chọc trời khuấy nước
mặc dầu với những hình tích và hành trạng bí ẩn đầy màu sắc truyền thuyết. Con
người ấy đối lập mình với thế giới, với chế độ mà mình đang sống bởi tự ý thức được
mình, ý thức được phẩm giá của mình, kiêu hãnh đứng riêng ra và cao hơn với xung
quanh và cảm thấy cô độc trong niềm kiêu hãnh đó. Tuy quản ngục và thầy thư lại
không được như Huấn Cao nhưng họ vẫn là những người xa lạ với hoàn cảnh của
mình đang sống. “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa
lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người (…) của viên quan coi ngục này là một
thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”.
Họ sống lạc lõng với xung quanh, là những người chọn nhầm nghề bởi nơi họ sống
là một nơi “lẫn lộn (…) khó giữ thiên lương”, là nơi mà những cái thuần khiết bị đày
ải giữa một đống cặn bã. Giữa cảnh sống đó, nhân cách và tài năng của Huấn Cao
càng rực sáng hơn, Huấn Cao đã vượt lên khỏi những ràng buộc của hoàn cảnh để
sống với chính bản thân mình dù rằng ông đang ở trong cảnh tù đày, cá nằm trên
thớt. Nguyễn Tuân đã dùng những lời thật đẹp để tả lại khung cảnh “một ngôi sao
Trang 11
Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân trời không định (…); bấy nhiêu âm
thanh phức tạp bay cao dần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị
muốn từ biệt vũ trụ…”. Những câu văn bay bổng, tài hoa đó đã nói lên phần nào
lòng yêu mến của nhà văn với các nhân vật lý tưởng của mình.
Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một bức tranh gồm nhiều mảng màu khác nhau,
phân rõ tối sáng, đậm nhạt mà trong đó cái Thiện và cái Ác, ánh sáng và bóng tối
luôn tương phản với nhau. Có thể nói, ngay ước muốn xin chữ Huấn Cao của viên
quản ngục đã là một ý định đầy chất lãng mạn. Ước mơ đó đã là cái nền nâng đỡ cho
hàng loạt chi tiết sau này để những mảng màu tương phản được bày ra. Cảnh tượng
Huấn Cao cho chữ là tột đỉnh của quan điểm lãng mạn mà tại điểm hội tụ đó cái
Thiện chiến thắng cái Ác, ánh sáng đã lấn át bóng tối và quan trọng hơn là sự phát
triển của tính cách nhân vật không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Tính cách, cảm
xúc của nhân vật đã vượt lên trên hoàn cảnh. Nguyễn Tuân đã nói đó là “một cảnh
tượng xưa nay chưa từng có” và chúng ta có thể nói nếu theo logic thông thường của
cuộc sống thì đó là một cảnh tượng “không thể có”. Ở đây các nhân vật đã quên đi
tất cả, quên đi địa vị, danh phận, địa điểm mình đang đứng mà chỉ sống với cái đẹp,
hướng tới ánh sáng, thưởng thức chung một nét chữ, cảm nhận cùng một mùi thơm
của mực. Trong bức tranh sơn dầu đó, Huấn Cao có cái đẹp lan toả của một người
nghệ sĩ còn viên quản ngục và thầy thư lại có cái đẹp của lòng biệt nhỡn liên tài, vẻ
đẹp của thiên lương còn giữ được giữa bao quay cuồng đen trắng. Từ hành động rỗ
gông của Huấn Cao ở đầu truyện tới việc Huấn Cao viết chữ ở cuối truyện là sự
thống nhất nhân cách của một nhân vật lãng mạn. Quản ngục, thư lại là hai nhân vật
nâng đỡ nhưng cũng đẹp và đầy chất thơ – chất thơ của cái đẹp, của tài hoa đối lập
và vượt lên khỏi thực tại tầm thường, tăm tối. Câu nói “Xin lĩnh ý” của viên quản
ngục khi bị Huấn Cao quát đuổi ra ngoài chỉ đơn thuần là một sự nhũn nhặn nhưng
câu nói “Xin bái lĩnh” của chính nhân vật này ở cuối truyện, nói sau khi được Huấn
Cao cho chữ và khuyên bảo lại là một nét đẹp của một tâm hồn hướng thiện, yêu
mến tài hoa.
Trong sáng tác của các nhà văn lãng mạn, người ta có thể nhận ra được hình bóng
nhà văn trong nhân vật lý tưởng của mình. Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” là một
nhân vật như thế. Hành trạng một đời tung hoành không biết trên đầu có ai cùng sự
tài hoa, ngông nghênh của ông Huấn cũng là một phần tâm hồn Nguyễn Tuân gửi
vào trong đó. Con người Nguyễn Tuân ở ngoài đời cũng như con người ông trong
Trang 12
văn chương và các nhân vật của ông có những nét chồng khít đến kỳ lạ mà trong đó
sự tài hoa, ngang tàng, phóng túng là mẫu số chung của những phân số đó. Con
người nghệ sĩ ấy không chấp nhận cái tầm thường xung quanh, muốn nổi loạn với
tất cả mà ở đây hình mẫu lịch sử của nhân vật Huấn Cao (một số nhà nghiên cứu nói
là Cao Bá Quát) chỉ còn tiếng vọng. Cũng chính con người nghệ sĩ trong Nguyễn
Tuân đã giúp ông bỏ đi phần kết của truyện này khi in trên báo, không đưa vào trong
tập sách “Vang bóng một thời”. Khi truyện ngắn “Vang bóng một thời” in lần đầu
trên báo, sau khi nói “Xin bái lĩnh”, viên quản ngục đã nghĩ rằng mình đã có “lời”,
có “lãi” khi biệt đãi Huấn Cao và nhận được bức châm do chính tay Huấn Cao viết.
Cái kết này đã bị lược bỏ khi truyện được in thành sách và chính sự lược bỏ đó đã
làm cho truyện thành công hơn, cuốn hút hơn. Truyện cuốn hút vì nó là một khối
lãng mạn thực sự mà không bị những ý nghĩ vụ lợi xen vào dù chỉ trong từng chi tiết
nhỏ. Đó chính là quan niệm cái Đẹp không gắn liền với cái hữu ích, cái Đẹp đối lập
với cái vụ lợi, như Nguyễn Tuân từng nói: “Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn coi
là vô giá trị…”.
“Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng
mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành
công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng
tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực
sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn
cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái
Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
SO SÁNH HAI HÌNH TƯỢNG HUẤN CAO VÀ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Đề thi: So sánh hai nhân vật Huấn Cao (truyện ngắn “Chữ người tử tù”) và ông
lái đò (tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”) để làm nổi bật cách xây dựng nhân vật
của nhà văn Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng.
GỢI Ý
1. Hoàn cảnh
Trang 13
* Điểm chung
– Phải đối mặt với một môi trường sống chứa đựng nhiều nguy hiểm, đầy thử thách.
– Môi trường ấy đồng thời cũng là cơ hội để họ bộc lộ trọn vẹn những vẻ đẹp độc
đáo trong tâm hồn, tính cách, khả năng của họ.
* Điểm riêng
– Huấn Cao
+ Chế độ phong kiến suy tàn, bắt đầu bộc lộ tính chất xấu xa, đen tối.
+ Vì chống lại triều đình phong kiến mà Huấn Cao đã bị bắt, bị xử án tử hình, bị
giam cầm để chờ ngày ra pháp trường chịu án chém. Những ngày cuối cùng của cuộc
đời ông phải sống trong buồng giam tử tù, nơi không có chỗ cho sự tồn tại của thiên
lương hay cái đẹp. Do đó, Huấn Cao luôn phải chuẩn bị tâm thế cho những trò đốn
mạt, cạm bẫy xấu xa của kẻ tiểu nhân.
– Ông lái đò
+ Môi trường lao động đầy nguy hiểm: Con sông Đà hung bạo, độc dữ như kẻ thù
số một.
+ Công việc lái đò lại là công việc dễ tổn thọ bởi nó đầy những hiểm nguy, buộc
người lái đò phải luôn tay, luôn mắt, luôn gân, luôn tim. Nguy hiểm nhất là những
lần vượt thác – nơi dòng sông thể hiện đầy đủ nhất cái uy lực khủng khiếp của nó.
2. Đặc điểm:
Tài năng phi phàm, xuất chúng:
– Huấn Cao:
+ Tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật – đòi hỏi sự uyên bác và một tâm hồn phóng
khoáng.
+ Tài viết chữ: Nét chữ vuông vắn, tươi tắn, viết nhanh và đẹp. Hồn chữ – điều được
kí thác trong từng nét chữ là hoài bão tung hoành của một đời người. Danh tiếng:
chữ Huấn Cao nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn đến kẻ vô danh tiểu tốt cũng biết đến
Trang 14
mà ngưỡng mộ. Chữ Huấn Cao là một vật báu ở đời, là niềm ao ước của những ai
có sự am hiểu về chữ thánh hiền và cảm nhận được giá trị của cái đẹp. Chữ Huấn
Cao có khả năng lay động, chinh phục lòng người.
– Ông lái đò
Tài năng bộc lộ trong lao động với một công việc rất bình thường: lái đò
+ Tay lái ra hoa: Những động tác chèo lái chứa đựng vẻ đẹp. Cái đẹp đời thường,
giản dị mà cũng vô cùng độc đáo.
+ Linh hoạt trong từng động tác để ứng phó, hoá giải những đòn đánh, thế tấn công
của con sông không chỉ độc dữ mà còn có khả năng quân sự tuyệt vời.
Sông Đà đã phối hợp được sức mạnh của cả đá và nước. Ông lái đò chỉ đứng trên
một con thuyền với một mái chèo, một mình đơn độc giữ bao la sóng thác. Đá sông
Đà dàn thạch trận với những cửa sinh, của tử biến ảo không lường. Nước sông Đà
có những thế võ và sức mạnh đủ để quật ngã những tay lái non gan và ít kinh nghiệm.
mái chèo chỉ là một công cụ bình thường nhưng khi ở trong tay ông lái đò lại như
một cây đũa thần, giúp ông ổn định thế trận, hoá giải sức mạnh của mọi đòn tấn
công.
Với sự linh hoạt của động tác, ông lái đò đã đưa chiếc thuyền vượt qua thạch trận.
Lúc thì đè sấn lên sóng thác mà đi, chặt đôi sóng mà tiến,… Con thuyền dưới sự điều
khiển của ông lái đò khi tiến khi thoái, khi công khi thủ. Có lúc nó lao vút như một
mũi tên tre, xuyên nhanh qua nước, vừa bơi, vừa tự dộng lái được, lượn được.
Qua mỗi trùng vi thạch trận, ông lái đò lại đổi tay lái và đổi luôn chiến thuật. Trong
trận chiến trên sông, không phải không có lúc người lái đò méo bệch mặt đi vì những
vết thương bởi sóng đánh đòn âm, đòn tỉa vào chỗ hiểm. Nhưng chính nhờ xự linh
hoạt của động tác, sự biến hoá của chiến thuật đã khiến cho lũ đá nơi ải nước phải
tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng. Con thuyền của ông lái đò đã bỏ lại phía sau
mình tiếng gieo hò của sóng thác để thanh thản hoà mình vào một không gian mới,
không khí mới trên chính con sông vừa mới đây thôi còn là đối thủ trong trận chiến
sinh tử.
Trang 15
Khí phách hiên ngang, bất khuất trước những hiểm nguy, thử thách không chịu đầu
hàng, lùi bước mà sẵn sàng đối mặt với một tâm thế bình thản, ung dung nhất có thể.
Thậm chí, họ còn coi những hiểm nguy như một niềm sinh thú trong cuộc sống của
mình.
* Điểm chung: Coi những hiểm nguy nh...
 






Các ý kiến mới nhất